Bị xù nợ: khi nào thì hình sự?

Cập nhật: 01-11-2013 | 00:00:00

Đối với loại án vay mượn nợ, thông thường quá trình vay mượn diễn ra tự nguyện, theo thỏa thuận của đôi bên và có vẻ là một quan hệ dân sự thuần túy. Sự kiện pháp lý hình sự chỉ phát sinh khi đến hạn trả nợ, người mắc nợ không trả nợ một cách cố ý.

Nếu trường hợp người mắc nợ có khả năng thanh toán nợ nhưng cố tình không trả, việc xem xét trách nhiệm hình sự không cần phải bàn cãi nhiều. Nhưng trường hợp đến hạn trả nợ, người mắc nợ tuyên bố vỡ nợ, không có khả năng thanh toán, có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Trường hợp công dân vay mượn nhau, chỉ coi là chiếm đoạt nợ vay khi đến hạn mà không thanh toán được nợ, không lý giải được đã tiêu dùng tiền, vàng vào việc gì, tức là không chứng minh được đầu ra, đầu vào một cách hợp lý và minh bạch. Những trường hợp người mắc nợ giải trình được đầu ra, đầu vào cân đối, hợp pháp, không chênh lệch hoặc chênh lệch không đáng kể thì xem như không có dấu hiệu chiếm đoạt.

Hiện nay có nhiều công ty chuyên đòi nợ thuê với những hình thức đòi nợ đầy màu sắc của giới xã hội đen

Trao đổi với nhiều thẩm phán cho thấy thực tiễn xét xử, những khoản đầu ra như sau có thể được chấp nhận, không xem xét trách nhiệm hình sự: Thỏa thuận vay với lãi suất cao, không đầu tư hoặc đầu tư không có hiệu quả, phải dùng tiền vay để trả lãi suất. Vay vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh nhưng rủi ro, thiên tai, làm ăn thua lỗ, do bị người khác chiếm dụng vốn hoặc vì những lý do khách quan khác dẫn đến vỡ nợ, không còn khả năng thanh toán. Mua sắm tài sản phục vụ sản xuất hoặc tiêu dùng.

Đối với những khoản tiền vay sử dụng không đúng mục đích chính đáng như chơi số đề, cờ bạc, buôn bán kinh doanh bất hợp pháp… đều không được chấp nhận và có thể xác định đó là tài sản chiếm đoạt trong trường hợp bị cáo không có khả năng thanh toán.

Ví dụ: A cho B vay 30.000.000 đồng, lãi suất 10%/ tháng, thỏa thuận vay từ tháng 1-2011 đến tháng 4-2012 phải trả toàn bộ nợ gốc, phần lãi phải trả hàng tháng không để đến tháng sau. Trả được 5 tháng (15 triệu đồng) thì B vỡ nợ bỏ trốn. Tháng 10-2012, A có đơn đề nghị khởi tố B cho cơ quan điều tra. Kết quả điều tra có cơ sở chứng minh rằng: Sau khi vay của A 30.000.000 đồng, B cho C vay lại 10.000.000 đồng với lãi suất 15%/tháng, sau đó C không trả lãi và nợ cho B. Số tiền còn lại B dùng để hút hít, buôn bán hàng cấm rồi bị bắt, bởi vậy B mới hết tiền để trả cho A.

Dấu hiệu chiếm đoạt đã rõ, vấn đề đặt ra là ở chỗ xác định mức độ chiếm đoạt là bao nhiêu để xem xét trách nhiệm hình sự đối với B. Như lập luận ở phần trên, có thể thống nhất cách tính như sau: 30.000.000 đồng (gốc vay) - {15.000.000 đồng + 10.000.000 đồng (cho vay lại)} = 5.000.000 đồng. Như vậy, về trách nhiệm hình sự xác định B chiếm đoạt của A 5.000.000 đồng, nhưng về trách nhiệm dân sự xác định B phải trả cho A nguyên số nợ 30.000.000 đồng, là vì khoản tiền lãi đã trả 15.000.000 đồng do hai bên tự nguyện thỏa thuận. Số tiền C nợ B 10.000.000 đồng là một quan hệ dân sự khác không thể khấu trừ qua cho A được.

Ví dụ khác: M vay của N 50.000.000 đồng đầu tư mua xe tải nhẹ đưa vào hoạt động kinh doanh. Quá trình vận tải hàng hóa không may xe bị tai nạn giao thông hư hại nặng không có khả năng phục hồi. Từ đó, M có dấu hiệu vỡ nợ vì không trả được nợ cho N đúng thời hạn cam kết. Sau nhiều lần đòi nợ chỉ nhận được những lời hứa suông, N có đơn yêu cầu khởi tố gửi cơ quan điều tra và M đã bị truy tố trước pháp luật về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân. Thận trọng xem xét trường hợp này, nhiều thẩm phán cho rằng không thể xử lý M theo thủ tục tố tụng hình sự được, bởi lẽ M không trả nợ được N là do rủi ro khách quan chứ không có ý thức chiếm đoạt tài sản của N.

THẢO VY

Chia sẻ bài viết

LƯU Ý: BDO sẽ biên tập ý kiến của bạn đọc trước khi xuất bản. BDO hoan nghênh những ý kiến khách quan, có tính xây dựng và có quyền không sử dụng những ý kiến cực đoan không phù hợp. Vui lòng gõ tiếng việt có dấu, cám ơn sự đóng góp của bạn đọc.

Gửi file đính kèm không quá 10MB Đính kèm File
Quay lên trên free html hit counter