Chuyện cổ mùa xuân

Cập nhật: 14-02-2015 | 07:56:08

Thế nào là chuyện cổ, cổ tích? Chưa có ai đưa ra thời gian xảy ra, ngàn năm, trăm năm, hay vài chục năm cách nay thì được gọi là chuyện cổ. Chỉ có quy định, cổ vật là những vật đã có khoảng 50 năm tuổi. Năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Chuyện đã 40 năm rồi, nhiều chuyện ngày đó, đến nay, với không ít người là chuyện xưa rồi. Chuyện tôi kể ra đây đã xảy ra hơn 40 năm và một phần gắn với mảnh đất Bình Dương hôm nay, không biết có phải là chuyện cổ?

 

Minh họa: MINH HIẾU

Hiệp định Paris năm 1973 được ký kết vào ngày 27-1, sau nhiều năm đàm phán giữa các bên. Hiệp định tuyên bố: Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, chấm dứt chiến sự, Mỹ và đồng minh rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Vào thời điểm này, tôi công tác tại Hội Văn nghệ giải phóng khu Sài Gòn - Gia Định thuộc Ban Tuyên huấn khu ủy. Sau Hiệp định Paris, chúng tôi được lệnh về Củ Chi đóng quân. Trên đường về Củ Chi, đoàn chúng tôi đi qua đất Bình Dương, đến Thanh An, qua Bến Súc vượt sông Sài Gòn. Đoàn có nhà thơ Giang Nam, Hoài Vũ, Khả Minh… là cán bộ lãnh đạo hội. Đến Bến Súc gần trưa. Những ngày hòa bình đầu tiên im tiếng súng đạn, đứng giữa đất trời rộng mở, nhà thơ Khả Minh ứng k hẩu:

Đứng trên Bến Súc đợi đò

Sang sông là đến Hố Bò, Củ Chi

Chúng tôi ghé vào một ngôi nhà mới làm bằng tầm vông ngay trên đường xuống bến đò Bến Súc. Sau hòa bình, nhiều hộ dân đã bung ra cất nhà ngoài lộ, tạo nên không khí đông vui của vùng giải phóng. Chủ nhà là một lão nông khoảng gần 60 tuổi, áo cộc, quần cộc, khăn rằn vắt vai, một nông dân Nam bộ quen thuộc. Ông mời chúng tôi vào nhà uống nước với thái độ thân thiện và cởi mở. Ông cho chúng tôi biết, ông mới ra lộ làm nhà mấy hôm rồi. Trước đây ông và bà con ở trong rừng Tà Leng, gần Rạch Bắp, thuộc Bến Cát. Nhà nào cũng có hầm, tối chui vào ngủ tránh đạn pháo bắn từ căn cứ Lai Khê và Đông Dù bên Củ Chi. Hòa bình rồi ra làm nhà ở ngoài lộ cho mát, thoáng. Nhà mới làm còn tạm bợ, khách ngồi trên chõng tre uống nước, nói chuyện. Nhà thơ Giang Nam hỏi chuyện con cái, gia đình ông. Ông cho biết, vợ ông bị pháo địch bắn chết, con trai, con gái vào du kích, còn ông một mình bám trụ ở đây. Con trai ông vào bộ đội miền, còn con gái làm giao liên. Chúng tôi hỏi ông về cô con gái có hay về thăm ông? Chậm rãi vấn thuốc và nỗi buồn hiện lên trên khuôn mặt chớm già của ông. Ông nói, cháu mới vừa hy sinh trước hòa bình khoảng một tháng, trong một lần đi giao liên rơi vào ổ phục kích của giặc. Nghe nói chúng tôi là đoàn nhà văn, nhà thơ, nên ông kể thêm về cô con gái. Ông nói, con gái ông rất mê vọng cổ và thơ. Về thăm ông, cô hay ca vọng cổ cho ông nghe. Chợt nhớ chuyện gì, ông đứng dậy vào góc nhà mở thùng đựng đạn đại liên. Thùng đựng đạn đại liên có đặc điểm là rất kín, đựng các thứ đồ đạc có giá trị, khi bị địch càn, chỉ đem ra bờ sông, bờ rạch nhấn chìm xuống sình cất giấu, không sợ ướt, sợ mất. Ông lấy trong thùng đại liên ra một túi vải và đưa cho nhà thơ Giang Nam. Ông nói, đây là quyển sổ chép bài hát của con gái, sau khi cô hy sinh, đơn vị tìm được và gửi lại cho ông. Chúng tôi xúm lại, mở tập vở chép bài hát của cô gái. Bỗng dưng nhà thơ Giang Nam run run tay, suýt làm rơi đôi kính lão. Nhà thơ nhận ra bài thơ “Quê hương” của mình đã được cô gái chép trang trọng trong quyển vở. Bài thơ “Quê hương” của nhà thơ Giang Nam đã từng là bài thơ mà thế hệ chúng tôi thuộc lòng. Bài thơ nói về tình yêu của đôi lứa, cô gái đã hy sinh, người con trai yêu quê hương vì trong đất quê hương có máu thịt của người con gái mình yêu. Anh đã gia nhập lực lượng cách mạng để chiến đấu cho quê hương. Tôi nghĩ, đây là niềm tự hào lớn lao của một nhà thơ, một nghệ sĩ, như nhà thơ Giang Nam.

Ông lão đưa chúng tôi ra thăm mộ cô gái, ở gần đó, phía trên triền sông Sài Gòn. Ông lão nói, dọn nhà ra đây để được gần con. Nhà thơ Giang Nam và chúng tôi ngồi xuống bên mộ cô gái. Quanh mộ cô gái, ông lão đã trồng những khóm huệ. Những đóa hoa huệ đỏ chói rực rỡ trong nắng trưa… Đất Bình Dương ở nơi đây chỉ toàn đá tổ ong cằn cỗi, chỉ có loài hoa huệ vẫn trụ vững hiên ngang k hoe sắc…

Chuyện như vậy đó, về sau tôi đã viết lại thành một bài ký có tên “Nắng từ dòng sông” và có đến ba tờ tạp chí văn nghệ hai miền Nam Bắc đã đăng lại. Đọc lại bài viết tôi lại nhớ buổi trưa gặp gỡ trên Bến Súc bên sông Sài Gòn, nhớ đến sắc đỏ của hoa huệ và gương mặt xúc động của nhà thơ Giang Nam. Chuyện có lẽ đã là chuyện cổ, gần 50 năm rồi còn gì, nhưng những người con trai, con gái hy sinh cho đất nước, dân tộc vẫn còn sống mãi. Nhờ có những con người ấy, mới có mùa xuân yên bình hôm nay, và mai sau…

 

 PGS-TS PHAN AN

 

 

Chia sẻ bài viết

LƯU Ý: BDO sẽ biên tập ý kiến của bạn đọc trước khi xuất bản. BDO hoan nghênh những ý kiến khách quan, có tính xây dựng và có quyền không sử dụng những ý kiến cực đoan không phù hợp. Vui lòng gõ tiếng việt có dấu, cám ơn sự đóng góp của bạn đọc.

Gửi file đính kèm không quá 10MB Đính kèm File
Quay lên trên free html hit counter