Công dụng của loài dê trong y dược học

Cập nhật: 14-02-2015 | 07:56:08

 Dê có tên khoa học là Capra sp., thuộc họ sừng rỗng (Bovidae), được thuần dưỡng từ lâu đời và được nuôi khắp các vùng trung du và miền núi. Ở nước ta có ba giống dê chính là dê Việt Nam, dê Ấn Độ và dê Mông Cổ. Dê đực 2 - 3 tuổi nhảy cái tốt nhất, dê cái 7 - 8 tháng tuổi có khả năng sinh sản. Dê đực mình ngắn, vạm vỡ và to hơn dê cái. Trong y học cổ truyền, hầu như tất cả các bộ phận của dê đều được dùng làm thuốc. Dê được xem là “cây thuốc biết đi”, dùng để tăng cường sinh lực, phòng chống và chữa trị hiệu quả nhiều bệnh.

1. Thịt dê:

Thịt dê (dương nhục) là thực phẩm ngon và bổ. Trong 100g thịt dê có 73,4g nước, 20,7g protid, 4,3g lipid, 1g chất chiết xuất, cung cấp được 125 calo. Ngoài ra, trong thịt dê còn có nhiều loại muối khoáng (11mg canxi, 129mg phospho, 2mg sắt… trong 100g thịt) và các vitamin (0,07mg vitamin B1, 0,13mg vitamin B2, 4,9mg vitamin PP…). Về giá trị dinh dưỡng, thịt dê không thua bất cứ loại thịt nào, kể cả những thứ thịt bổ dưỡng nhất là thịt bê, thịt gà tơ, thịt hươu.

Thịt dê có vị ngọt, tính nóng, không độc, vào ba kinh tỳ, vị và can. Tác dụng trợ dương, bổ tinh huyết, dùng chữa ho lao, gầy yếu, phụ nữ sau khi sinh gầy yếu, khí hư, cạn sữa, huyết hôi. Thịt dê tươi nấu chín cùng một số vị thuốc khác như xuyên khung, hoàng kỳ, đương quy, gừng, mỗi ngày dùng 40 - 60g.

Lưu ý, thịt dê kỵ dùng đồ đun nấu bằng đồng. Thịt dê phản vị thuốc bán hạ và xương bồ. Thịt dê ăn với giấm tổn hại tim. Thịt dê ăn với đậu tương và cảo mạch sanh ra cố tật, là loại bệnh chữa trị lâu ngày. Thịt dê ăn với đậu nành, sinh ra chứng vàng da. Thịt dê ăn với trái mơ, sinh chứng đau bụng. Thịt dê ăn với măng, sinh đau bụng kiết lỵ. Thịt dê ăn với tiêu sinh, sinh chứng đau bụng. Ăn thịt dê, uống nước chè gây táo bón. Thịt dê kỵ giấm, acid acetic sẽ phá hủy thành phần dinh dưỡng của thịt dê. Ăn thịt dê kỵ ăn dưa hấu, vì sẽ gây trở ngại cho tì vị, dạ dày. Những người bị lở mồm, loét lưỡi, đau mắt đỏ, miệng đắng, bực bội, yết hầu đau khô, đau nhức sưng chân răng, đau bụng đi cầu đều kỵ ăn thịt dê. Thịt dê không nên ăn cùng bí đỏ, cũng như các gia vị gừng, tiêu, ớt, đinh hương, hồi hương… vì đều là tính nóng dễ sinh nhiệt, nóng trong người.

2. Tiết dê:

Tiết dê (dương huyết) có vị mặn, tính bình. Tác dụng hoạt huyết tán ứ, tục cân tiếp cốt, chữa thổ huyết, sản hậu huyết vựng, ngoại thương xuất huyết. Tiết dê vừa lấy cho ngay vào rượu 40 độ (với tỷ lệ 1 phần tiết, 3 - 4 phần rượu) lắc đều. Ngày uống 20 - 40ml có tác dụng bổ huyết, chữa choáng váng, chóng mặt, nhức đầu, đau lưng. Theo tài liệu cổ, tiết dê có tác dụng giải những chất độc như thủy ngân, sanh ngân, bằng sa, lưu hoàng, dương khởi thạch, khinh phấn, tỳ sương (thạch tín).

Lưu ý, những người mắc bệnh cao huyết áp không nên dùng tiết dê nói riêng và tiết động vật nói chung.

3. Sữa dê:

Sữa dê (dương nhũ) có vị ngọt, tính ấm, bổ thận, sinh khí, lợi tiểu, nhuận tràng. Tác dụng ôn nhuận bổ hư, bồi bổ cơ thể. Sữa dê có hương vị hấp dẫn, giá trị dinh dưỡng cao hơn sữa bò, dễ hấp thu và tiêu hóa, có tác dụng chữa hư lao, gầy yếu, nhuận táo, nôn ọe, lở miệng.

4. Xương dê:

Xương dê (dương cốt) có vị ngọt, tính ấm, tác dụng bổ thận, cường gân cốt. Xương dê dùng chữa hư lao gầy yếu, lưng gối yếu mỏi, bạch trọc, lỵ lâu ngày, tiêu chảy kéo dài. Dùng trong thì đốt tồn tính làm hoàn, tán. Dùng ngoài thì nung tồn tính, làm bột xoa. Người ta thường dùng xương dê hoặc cả thịt lẫn xương để nấu thành cao toàn tính, chữa chứng gầy còm, thiếu máu, nhức mỏi gân cốt, đau lưng, đau bụng. Đốt xương dê lấy than chà răng mỗi ngày có thể cố bộ thận và làm trắng răng.

5. Da dê:

Da dê (dương bì) bỏ lông, đem nấu canh hoặc làm gỏi ăn có tác dụng chủ trị phòng độc.

6. Gan dê:

Gan dê (dương can) có vị ngọt đắng, tính mát, tác dụng tư bổ cường tráng, minh mục (sáng mắt). Sử dụng gan dê chữa can phong hư nhiệt, mắt mờ đỏ, sau khi khỏi sốt mờ mắt. Mỗi ngày ăn 30 - 60g, dùng dưới dạng luộc hoặc nấu cháo, dùng riêng hay phối hợp với một số vị thuốc.

7. Mật dê:

Mật dê (dương đởm) có vị đắng, tính hàn, tác dụng thanh nhiệt giải độc, minh mục, dùng chữa phong nhiệt đau mắt đỏ, lao phổi thổ huyết, họng sưng đỏ. Dùng ngoài bôi, xoa bóp để làm tan những vết bầm, tụ máu do ngã, bị thương.

8. Bao tử dê:

Bao tử dê (dương đổ) có vị ngọt, tính ấm, tác dụng bổ hư, kiện tỳ vị. Dùng chữa hư lao gầy yếu, tiêu hóa kém, ra mồ hôi trộm, đi tiểu nhiều. Ngày ăn 20 - 30g, ninh nhừ hoặc nấu cháo.

9. Thận dê:

Thận dê (dương thận) có vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ thận khí, ích tinh tủy, được dùng chữa các bệnh liệt dương, xuất tinh sớm, gầy yếu, suy nhược, ù điếc, di tinh, hậu sản hư lãnh, đau lưng mạn tính.

10. Tinh hoàn dê:

Tinh hoàn dê (ngọc dương) dùng để chữa suy thận, liệt dương. Ngày dùng 25 - 30g, ngâm rượu uống hoặc hầm các vị thuốc khác để ăn.

11. Mỡ dê:

Tác dụng nhuận da, sát trùng. Dùng ngoài làm tươi nhuận làn da, có tác dụng tốt khi bôi xoa vào vết ghẻ lở, hắc lào, mụn nhọt, chàm (eczema) vì có vitamin F ngăn chống hiệu quả những bệnh ngoài da.

12. Tim dê:

Tác dụng giải uất, bổ tâm, an thần. Là vị thuốc bổ tim, chữa chứng tâm khí uất kết (lồng ngực cảm thấy đầy khí, ngực như bị đè nặng), chữa người hay sợ hãi. Luộc hoặc hấp cách thủy để ăn.

13. Phổi dê:

Tác dụng bổ phổi, trị ho, thông phế khí và giải độc. Phổi dê thái nhỏ nấu với đậu đen, ăn vài lần sẽ chữa khỏi bệnh đái dầm ở trẻ em.

14. Óc, tủy dê:

Ăn óc, tủy dê và uống chút rượu sẽ có tác dụng bổ máu, mượt tóc và mịn da.

15. Lòng dê:

Thêm giấm vào rồi hâm nóng, dùng nó để bó vào chỗ đau gân cốt.

16. Râu dê:

Đốt đắp trị ghẻ nhọt.

17. Sừng dê:

Nấu cao dùng chữa thong manh, làm sáng mắt và đặc biệt là trị bệnh thiên đầu thống rất công hiệu. Tán thành bột hoặc mài nước chữa chứng đổ mồ hôi trộm, tê thấp, sốt rét, đau bụng và phụ nữ sau khi sẩy thai bị xuất huyết quá nhiều, bụng đau quặn, mặt xanh nhợt.

18. Đuôi dê:

Là vị thuốc bổ thận và làm sáng mắt, dùng dưới dạng ninh nhừ hoặc nấu cao.

19. Bong bóng dê:

Dùng chữa bệnh đái rắt. Lấy bong bóng rửa sạch rồi đổ nước sôi để nguội vào, cột chặt cuốn, đem nướng trên lửa than cho vàng. Ăn bong bóng đã nướng chín và uống nước trong đó liền khoảng 3 ngày (mỗi ngày một cái) sẽ thấy hiệu nghiệm.

20. Phân dê:

Phân dê cũng có tác dụng chữa bệnh. Phân dê đem nấu với rượu, uống chữa nôn mửa, ợ chua hoặc đem dung dịch trên rửa chỗ chốc đầu, rồi lấy phân dê khác đốt cháy cùng bồ hóng bếp tán nhỏ, hòa vào dầu mè (vừng) hay mỡ heo để bôi xoa… Phân dê là bài thuốc chữa chốc đầu hiệu nghiệm.

 

 Lương y LƯƠNG THỊ HỒNG ĐÀO

Chia sẻ bài viết

LƯU Ý: BDO sẽ biên tập ý kiến của bạn đọc trước khi xuất bản. BDO hoan nghênh những ý kiến khách quan, có tính xây dựng và có quyền không sử dụng những ý kiến cực đoan không phù hợp. Vui lòng gõ tiếng việt có dấu, cám ơn sự đóng góp của bạn đọc.

Gửi file đính kèm không quá 10MB Đính kèm File
Quay lên trên free html hit counter