Thừa phát lại được làm gì?

Cập nhật: 19-08-2013 | 00:00:00

 Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 224/QĐ- TTg ngày 19-2-2009, theo đó, TPL là người có đủ các tiêu chuẩn do pháp luật quy định, được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án (THA) dân sự (bao gồm: Xác minh điều kiện THA và trực tiếp thi hành bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự); tống đạt giấy tờ của tòa án và của cơ quan THA dân sự cho đương sự; lập vi bằng (ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác) và làm các công việc khác theo quy định của pháp luật có liên quan. TPL hành nghề thông qua hình thức Văn phòng TPL.    Trong buổi họp báo ra mắt 5 văn phòng TPL tại TP.HCM vào tháng 5-2010, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đức Chính từng hướng dẫn: “TPL không được phép xông vô một căn phòng nào đó rồi lập vi bằng nêu anh A, chị B đang “tình tang” với nhau. TPL chỉ có thể lập vi bằng ghi nhận một cách khách quan rằng: sáng hôm ấy, có việc anh A và chị B cùng vô trong khách sạn, rồi ở trong đó đến chiều mới ra về. Việc đánh giá, xem xét nội dung vi bằng trên là do tòa án”

“Với việc giao cho TPL thực hiện 3 nhiệm vụ chính mang tính truyền thống của TPL như trên, mô hình TPL sẽ là một thiết chế nghề nghiệp độc lập vừa làm nhiệm vụ hỗ trợ tư pháp, vừa thực hiện các công việc về THA dân sự theo nhu cầu của cá nhân, tổ chức đúng theo tinh thần đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động bổ trợ tư pháp, THA của Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược Cải cách tư pháp”, Bộ trưởng Hà Hùng Cường, nhận định.

Ghi nhận tại Phòng Bổ trợ tư pháp (Sở Tư pháp TP.HCM), các công việc TPL hiện đang làm bao gồm: (1). Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của tòa án hoặc cơ quan THA dân sự. (2). Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Vi bằng là văn bản do TPL lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác. Giá trị pháp lý của vi bằng do TPL lập có giá trị chứng cứ để tòa án xem xét khi giải quyết vụ án. Vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. (3). Xác minh điều kiện THA theo yêu cầu của đương sự. Cụ thể, TPL có quyền xác minh điều kiện THA liên quan đến việc THA mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành của Cục THA dân sự và các Chi cục THA dân sự quận, huyện. Khi thực hiện, TPL có quyền xác minh ngoài địa bàn trong trường hợp đương sự cư trú, có tài sản hay có điều kiện THA ngoài địa bàn của Văn phòng TPL. (4). Trực tiếp tổ chức THA theo yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định của tòa án.

Khi thực hiện công việc về THA dân sự, TPL có quyền như Chấp hành viên quy định tại Điều 20 của Luật THA dân sự (trong đó có quyền: xác minh tài sản, điều kiện THA của người phải THA; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải THA hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến THA; áp dụng biện pháp bảo đảm THA, biện pháp cưỡng chế THA), trừ Khoản 9, Khoản 10 và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Với các công việc xác minh điều kiện THA và trực tiếp tổ chức THA theo yêu cầu của đương sự, TPL là trợ thủ pháp lý đắc lực cho các đương sự, đặc biệt là người được THA. Như vậy, dưới góc độ xã hội, hoạt động TPL bước đầu đã tạo lập một nghề mới trong thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý và là bước đầu tiên xã hội hóa hoạt động THA, tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội.

 NGUYỆT MINH

Chia sẻ bài viết

LƯU Ý: BDO sẽ biên tập ý kiến của bạn đọc trước khi xuất bản. BDO hoan nghênh những ý kiến khách quan, có tính xây dựng và có quyền không sử dụng những ý kiến cực đoan không phù hợp. Vui lòng gõ tiếng việt có dấu, cám ơn sự đóng góp của bạn đọc.

Gửi file đính kèm không quá 10MB Đính kèm File
Quay lên trên free html hit counter